Sử dụng công cụ tra cứu nhanh!

Ví dụ: Suc khoe, bệnh tiểu đường, bệnh MERS,

Tổng quan thông tin về bệnh viêm tủy răng

Sự tồn tại của các loại vi khuẩn trong miệng là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tủy răng. Bệnh cũng có thể do nhiễm độc hóa chất, sang chấn, thay đổi áp suất môi trường…

Để hiểu và phòng tránh, điều tri bệnh một cách hiệu quả trong chuyên mục lần này Wikisuckhoe.vn xin chia sẻ cùng bạn đọc những kiến thức dưới đây.

  1. Nguyên nhân
  2. Triệu chứng
  3. Cách điều trị
Thông tin cần biết về bệnh viêm tủy răng
Thông tin cần biết về bệnh viêm tủy răng

Nguyên nhân

Nếu bạn mắc một số bệnh sau đây thì rất dễ mắc bệnh viêm tủy răng: răng bị tổn thương, sâu răng, răng bị mài mòn, tổn thương cổ răng, răng dị hình, viêm quanh răng…
Nguyên nhân gây bệnh viêm tủy thường gặp nhất là vi khuẩn. Chúng tồn tại ở trong miệng, xâm nhập tủy răng chủ yếu qua các lỗ sâu và cuống răng… Ngoài ra, hóa chất (nhiễm độc chì, thủy ngân…), sang chấn, thay đổi áp suất môi trường… cũng có thể gây viêm
1. Do mắc bệnh sâu răng: Khi răng bị sâu, vi khuẩn sẽ thâm nhập qua vùng tổn thương đi vào trong tủy răng, gây ra viêm tủy răng. Một nguyên nhân khác, vi khuẩn trong cơ thể đi vào máu, theo máu đến tủy răng, gây viêm tủy răng.
2. Do tổn thương ở răng: chân răng thường bị tổn thương, tổn thương tủy răng do tổn thương từ ngoài răng gây nên vỡ hay mẻ răng. Mức độ tổn thương răng có liên quan đến viêm tủy răng. Răng sau khi bị chấn động nhẹ cũng có thể gây viêm tủy răng.
3. Do răng bị mài mòn: những người lớn tuổi do quá trình nhai nghiền thức ăn kéo dài qua nhiều năm tháng nên men răng và xương bị mài mòn. Răng bị mài mòn gần đến tủy răng, sẽ dẫn đến viêm tủy răng.
4. Răng có dị hình bẩm sinh: thường gặp khi tủy răng bi hoại tử ở những răng nhọn dị dạng ở giữa và những răng lõm phía dưới. Răng nhọn ở giữa một cách dị dạng dễ bị mài mòn, dẫn tới viêm tủy răng. Còn răng có hốc lõm ở phía dưới dễ bị tồn thức ăn, gây sâu răng, từ đó dẫn tới viêm tủy răng.
5. Do chứng viêm quanh răng: những tổ chứ xung quanh chân răng như lợi bị viêm nhiễm, dẫn tới viêm tủy răng.
6. Do nhiệt độ thay đổi đột ngột: nhiệt độ khoang miệng thay đổi đột ngột, chẳng hạn như uống nước nóng sau đó lại ăn đồ lạnh ngay sẽ dễ làm cho tủy răng sung huyết, từ đó gây bệnh ở tủy răng.

Triệu chứng

Bệnh viêm tủy răng có thể chia làm viêm cấp hoặc viêm mạn.
Trường hợp là viêm cấp thì gây ra những cơn đau dữ dội, viêm mạn có thể đau cơn hoặc đau liên tục, cường độ đau ít hơn viêm cấp.
Các cơn đau răng thành từng cơn, vừa đau vừa buốt hoặc chỉ đau mà không buốt. Chúng thường kéo dài từ 3-30 phút, có thể đau mức độ nhẹ tại chỗ hoặc đau dữ dội lan ra xung quanh và lên đầu, đau có thể giật theo mạch nhịp đập.
Những cơn đau này có thể xuất hiện tự nhiên hoặc sau khi có kích thích hoặc thay đổi áp suất (ví dụ đi máy bay), khi hết cơn đau bệnh nhân lại thấy dễ chịu hoàn toàn.
Đau tủy răng là một cấp cứu nha khoa, nhiều trường hợp bệnh nhân đau uống thuốc giảm đau không tác dụng. Khi người bệnh nhai vào răng viêm tủy thì hơi đau, có thể có cảm giác răng lung lay.
Đau tủy răng nếu không được điều trị thì đau tủy kéo dài tới khi tủy chết, nhiều người bệnh chủ quan cho rằng răng đã tự khỏi mà không biết rằng nhiễm khuẩn sẽ đi ra vùng quanh chóp chân răng. Răng viêm tủy có thể có lỗ sâu, vỡ rạn răng, mòn răng hoặc viêm nha chu.

Cách điều trị

– Người bệnh có thể dùng thuốc giảm đau tạm thời. Khi dùng thuốc phải chú ý tác dụng phụ của thuốc trên đường tiêu hóa và tác dụng toàn thân khác. Cần phải khẩn trương đến bác sĩ răng hàm mặt để điều trị triệt để bệnh tủy răng.
– Trườn hợp răng có chỉ định nhổ thì nên nhổ răng sớm để loại bỏ triệu chứng đau, nếu răng có chỉ định bảo tồn thì sẽ được điều trị tủy. Nếu bệnh nhân đau ít, cơn đau ngắn (3-5 phút) thì có thể theo dõi tủy răng, nếu răng bị sâu thì cần làm sạch ngà mủn vì ngà mủn có nhiều vi khuẩn, rồi trám kín bằng hydroxit canxi, tránh kích thích nóng, lạnh, chua, ngọt.
– Trường hợp các cơn đau giảm đau thì không cần lấy bỏ tủy răng, thời gian theo dõi khoảng sáu tháng. Nếu đau tăng lên thì cần lấy bỏ tủy, bệnh nhân sẽ được bác sĩ gây tê tại chỗ quanh chân răng và khoan mở tủy, lấy sạch tủy và tạo hình hệ thống ống tủy để các ống tủy có hình thuôn thích hợp cho việc hàn kín ống tủy.
– Giới y khoa hiện nay có nhiều loại dụng cụ nong và phương pháp tạo hình ống tủy nhưng đều có đặc điểm chung là dùng các lưỡi cắt trên cây nong ống tủy để lấy bớt ngà ở thành ống tủy và mở rộng ống tủy, trong quá trình nong rộng này không được đưa dụng cụ đi ra ngoài chóp răng. Việc lấy bỏ tủy và nong rộng ống tủy đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ, có những trường hợp ống tủy nhỏ phải nong ống tủy rộng ra rồi mới lấy được hết tủy. Trong quá trình nong rộng ống tủy sẽ tạo ra các mùn ngà, một phần việc quan trọng là không được đẩy các mùn ngà xuống chóp chân răng.
Quá trình nong rộng ống tủy phải kết hợp với bơm rửa nước natri hypochlorid 2,5% và các dung dịch bôi trơn để đưa các mùn ngà ra ngoài.
Sau khi ống tủy đã được làm sạch và tạo hình thuôn thích hợp cho việc trám kín thì bác sĩ nha khoa sẽ đo chiều dài ống tủy bằng máy đo độ dài (máy apex locator), làm khô ống tủy và hàn ống tủy bằng gutta-percha, đây là một loại nhựa cây có tính dẻo tương đối, chảy lỏng khi làm nóng và được bơm vào ống tủy. Quá trình hàn ống tủy được kiểm soát bằng X-quang, gutta-percha có đặc tính khi nguội sẽ co lại, do đó gutta-percha sau khi nguội sẽ được ép chặt vào các thành ống tủy bằng các cây lèn thích hợp, sau đó bác sĩ tiếp tục bơm thêm gutta-percha, lỗ sâu thân răng sẽ được hàn bằng amalgam hoặc composite.

>> Bạn có thể quan tâm

  1. Bệnh viêm miệng aphthous và những điều bạn cần biết.
  2. Bệnh ung thư miệng và thông tin tổng quan.

Bài viết liên quan