Sử dụng công cụ tra cứu nhanh!

Ví dụ: Suc khoe, bệnh tiểu đường, bệnh MERS,

Thông tin tổng quan về bệnh ung thư vú

Vú được tạo thành chủ yếu từ các tế bào mỡ và tế bào tuyến. Tuyến sản xuất sữa trong vú được tạo thành từ các tế bào riêng lẻ sinh sản dưới sự kiểm soát của hormone. Đôi khi quá trình sinh sản này mất kiểm soát và một cấu trúc tuyến bất thường phát triển. Đây là sự khởi đầu của ung thư.

Bệnh ung thư vú là dạng u ác tính. Nó xảy ra khi các tế bào vú trở nên bất thường và phân chia không có kiểm soát hay trật tự.

Trong bài viết này Wikisuckhoe.vn sẽ chia sẻ cùng độc giả tìm hiểu rõ hơn về bệnh ung thư vú.

  1. Nguyên nhân
  2. Triệu chứng
  3. Điều trị
  4. Tham khảo
Thông tin tổng quan về bệnh ung thư vú
Thông tin tổng quan về bệnh ung thư vú

Nguyên nhân

Ung thư vú thường được kích thích bằng các chu kì lặp đi lặp lại hàng tháng của các kích thích tố nữ bình thường. Độ dài của thời kỳ thụ tinh, tức là từ lần đầu tiên có kinh cho đến khi mãn kinh, là một yếu tố nguy cơ. Phụ nữ mãn kinh ở tuổi 55 có nguy cơ cao hơn rất nhiều so với người mãn kinh năm 45 tuổi. Độ tuổi mang thai lần đầu tiên cũng quan trọng: có thai lần đầu sau 30 tuổi làm tăng nguy cơ so với những người mang thai lần đầu trước 30 tuổi. Tương tự như vậy, phụ nữ chưa bao giờ mang thai cũng có nguy cơ cao hơn. Cho con bú tăng khả năng chống lại bệnh ung thư vú. Liệu pháp hormone thay thế làm tăng nguy cơ ung thư vú và cần được thảo luận trước khi bắt đầu điều trị.

Từ 5 đến 10% của tất cả các ca ung thư vú có liên quan đến các yếu tố di truyền. Các gen BRCA1 và BRCA2 đã được xác định và có thể liên quan đến ung thư vú xuất hiện trong khoảng xấp xỉ một nửa của những gia đình có tiền sử rất mạnh về bệnh ung thư vú và / hoặc ung thư buồng trứng.

Triệu chứng

Dấu hiệu phổ biến nhất của ung thư vú là cục u. Có thể cục u sẽ không gây đau. Cục này có thể ở
dạng cứng, nhưng đôi khi lại nhạy đau và mềm. Nếu có bất cứ cục u vú nào mới thì quý vị phải
đến gặp bác sĩ để kiểm tra.
Những điều khác cũng có thể là dấu hiệu của ung thư vú:

    • Sưng phù toàn bộ hoặc một phần vú (ngay cả khi quý vị không cảm thấy cục u)
    • Thay đổi ở da vùng vú, chẳng hạn như đau rát hoặc có chỗ lõm
    • Đau bầu vú hoặc núm vú
    • Núm vú thụt vào trong
    • Núm vú hoặc da vùng vú bị ửng đỏ, đóng vảy, hoặc dày hơn.
    • Xuất hiện dịch chảy bất thường tại núm vú
    • Ở nách có những u cục bất thường

Có dịch tiết không phải là sữa
Đôi khi trường hợp ung thư vú có thể lan rộng tới các hạch bạch huyết ở nách. Hạch bạch huyết
là những chùm mô nhỏ hình hột đậu có mục đích giúp cơ thể chống lại mầm bệnh. Ung thư có
thể tạo ra cục u hoặc tình trạng sưng phù tại hạch bạch huyết trước cả khi quý vị cảm thấy cục u
ở vú.

Điều trị

Điều trị bệnh ung thư vú bằng phẫu thuật

  • Phẫu thuật cắt bỏ vú: Là phương pháp bác sĩ sẽ cắt bỏ đi toàn bộ tuyến vú và vét sạch hạch ở nách.
  • Phẫu thuật bảo tồn vú: Còn được gọi là cắt bỏ riêng khối u hoặc cắt bỏ một phần. Trong phẫu thuật bảo tồn vú, chỉ cắt bỏ mô ung thư và một phần mô xung quanh cũng như các hạch trong hệ bạch huyết. Phạm vi phẫu thuật cắt vú phụ thuộc vào kích thước và vị trí của khối u và các yếu tố khác. Sau phẫu thuật bảo tồn vú, bệnh nhân nhất thiết phải xạ trị.

Điều trị bệnh ung thư vú bằng phương pháp hóa trị:

Hóa trị nhằm mục đích ngăn ngừa tái phát ung thư ở những mô nằm xa vú. Hóa trị thường được khuyến khích ở phụ nữ còn trẻ và kéo dài 3 đến 6 tháng. Có thể gây buồn nôn hoặc nôn nhẹ, rụng tóc, thờ ơ hay mệt mỏi, và mất cảm giác ngon miệng. Hầu hết phụ nữ có thể tiếp tục làm việc trong thời gian này. Việc lựa chọn các loại thuốc sẽ phụ thuộc vào sức khỏe chung của từng người và các vấn đề y tế khác, giai đoạn của ung thư, và các yếu tố nguy cơ khác.

Điều trị bệnh ung thư vú bằng phương pháp xạ trị:

Chiếu xạ nghĩa là dùng chùm tia có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Có thể sử dụng
trị liệu này để tiêu diệt bất cứ tế bào ung thư nào còn sót trong vú, tại thành ngực, hoặc ở vùng
nách sau khi giải phẫu.
Có 2 cách chánh để thực hiện liệu pháp chiếu xạ. Có thể chiếu xạ vào vú từ máy móc đặt bên
ngoài cơ thể. Quý vị có lẽ đã nghe nói về điều này dưới tên gọi chiếu xạ bằng chùm tia ngoài. Và
cũng có thể đặt thẳng các hạt phóng xạ vào mô vú ở kế cạnh vùng ung thư thay vì nhắm chùm tia
chiếu xạ từ bên ngoài cơ thể vào mục tiêu. Điều này gọi là liệu pháp cận phóng xạ.

Bổ trợ toàn thân

Sau khi phẫu thuật, điều trị bổ trợ toàn thân cần được xem xét. Quyết định điều trị dựa trên cân nhắc giữa lợi ích giảm được tái phát, di căn với nguy cơ về độc tính của điều trị, tác động của các bệnh kèm theo.

  • Điều trị hóa chất: Đây là cách mà dùng thuốc để điều trị ung thư theo một pháp đồ điều trị đã được định hình sẵn. Các loại thuốc có thể đưa vào cơ thể bằng cách uống hoặc tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch máu. Điều trị hóa chất được áp dụng tốt nhất đối với các bệnh nhân dưới 70 tuổi. Hoặc các khối u nhỏ, đường kính bé hơn hơn 0.5cm, và không có di căn hạch nách.
  • Điều trị nội tiết: Điều trị nội tiết có thể áo dụng cho hầu hết bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính hoặc không rõ. Thời gian dùng thuốc hợp lý là 5 năm, bắt đầu sau khi đã hoàn tất điều trị hóa chất.

Tham khảo

  1. Hướng dẫn bạn cách trị đau mắt đỏ bằng cỏ cây thiên nhiên
  2. Bộ trưởng Y tế Kim Tiến đến thăm và làm việc tại Thổ Nhĩ Kỳ
  3. Bài thuốc dân tộc giúp chữa bệnh tóc bạc sớm

Bài viết liên quan