Sử dụng công cụ tra cứu nhanh!

Ví dụ: Suc khoe, bệnh tiểu đường, bệnh MERS,

Những điều bạn nên biết về bệnh bạch biến

Bệnh bạch biến là một bệnh tế bào sinh sắc tố ở da bị phá hủy khiến da mất đi lớp sắc tố melamin, do đó vùng da bị mất sắc tố trở thành màu trắng, có khi có những đốm nâu xen kẽ, lông hoặc tóc trên vùng da bị bạch biến cũng có màu trắng.
Trong bài viết này Wikisuckhoe.vn sẽ chia sẻ với độc giả những thông tin về bệnh bạch biến.

  1. Nguyên nhân
  2. Triệu chứng
  3. Điều trị
Những điều bạn nên biết về bệnh bạch biến
Những điều bạn nên biết về bệnh bạch biến

Nguyên nhân

Hiện nay thì nguyên nhân chính xác gây nên bệnh bạch biến vẫn chưa được xác định rõ.
Đã có rất nhiều giả thuyết dưa ra để giải thích về nguyên nhân hình thành bệnh. Ví dụ như có giả thuyết cho rằng: bệnh liên quan tới quá trình tự miễn làm phá hủy các tế bào sinh sắc tố (tế bào sắc tố). Hay một giả thuyết khác lại được đưa ra cho rằng bệnh có liên quan tới cơ chế tự phá hủy enzym và rối loạn hoạt động thần kinh.
Thực tế, yếu tố di truyền có thể đóng vai trò khá quan trọng vì khoảng 30% bệnh nhân bạch biến có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh. Bệnh thường hình thành sau những căng thẳng tinh thần, xúc động mạnh, chấn thương thể chất như tai nạn, phẫu thuật, mang thai, mất người thân, mất việc làm,…
Các tác nhân hóa học như phenol, catfechin, thiol cũng có thể gây bệnh. Bạch biến có thể kết hợp với một số bệnh khác như rối loạn chức năng tuyến giáp, rối loạn chức năng gan, viêm màng não vô khuẩn, thiếu máu ác tính, đái tháo đường, khiếm thính, sợ ánh sáng, rụng tóc.

Triệu chứng

– Các đốm, đám tròn mất sắc tố, có giới hạn rõ rệt với vùng da lành là những dấu hiệu đặc trưng của bệnh
– Tại uùng rìa của thương tổn thường có màu sắc sẫm hơn, thường xuất hiện đối xứng hai bên cơ thể.
– Còn tại vùng da thương tổn bị mất sắc tố đều nên có màu trắng đều, cũng có trường hợp trên nền trắng có những chấm màu nâu. Về kích thước của vùng da thì bị tổn thương và thay đổi rất nhiều; lúc đầu có thể xuất hiện những chấm trắng, còn sau đó thì lan rộng và có thể liên kết với nhau tạo thành những đám rất rộng, loang lổ, bờ vằn vèo và chúng có thể lan rộng hầu hết mặt da của cơ thể.
– Thường thì lông, tóc trên vùng da bị bệnh thường có màu trắng.
– Với vùng da bệnh thì không bong vảy và vẫn có cảm giác bình thường.
– Số lượng và vị trí của đốm mất sắc tố rất thay đổi, có thể gồm một hoặc nhiều đốm, vị trí thường gặp là mu bàn tay, cổ tay, cẳng tay, lưng, cổ, vùng mặt và vùng sinh dục. Đặc biệt bạch biến hầu như không gặp ở vùng lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng niêm mạc.
– Một số trường hợp các đám mất sắc tố xuất hiện xung quanh nốt ruồi, bớt, vết bỏng. Bệnh tiến triển không theo quy luật, rất khó đoán trước, thường không biết bệnh khởi phát khi nào. Nó có thể xuất hiện ngay sau một chấn thương tinh thần hoặc chấn thương thể chất nặng.
– Bệnh bạch biến tiến triển mạn tính, có thể có những đợt nặng lên. Tổn thương thường tăng lên vào mùa hè, giảm đi vào mùa đông hoặc ổn định lâu dài.
– Bên cạnh đó bệnh cũng có tỷ lệ tự khỏi khoảng 15-30%.

Điều trị

Tại thời điềm hiện nay thì chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với bệnh bạch biến nhưng cũng có một số thuốc và biện pháp điều trị đã được áp dụng, cho hiệu quả khác nhau giữa các bệnh nhân.
– Có thể áp dụng phương pháp quang hóa trị liệu – PUVA: dùng psoralen đường uống hoặc bôi tại chỗ kết hợp với chiếu tia cực tím. Bệnh nhân dùng quang hóa trị liệu phải tuân thủ đúng thời gian phơi nắng hoặc chiếu tia, uống thuốc vào thời điểm thích hợp. Trong quá trình điều trị, phải đeo kính râm chống tia cực tím, tránh dùng các thuốc nhạy cảm với ánh sáng (như tetracyclin, phenothiazine, sulfamid…).
– Nếu biện pháp điều trị kể trên không hiệu quả hoặc chống chỉ định, người bệnh có thể dùng các biện pháp như ghép da, cắt bỏ vùng da tổn thương (nếu tổn thương khu trú, kích thước nhỏ), thậm chí phải chấp nhận dùng kem hóa trang bôi vào vùng da mất sắc tố. Trong điều trị bạch biến, bệnh nhân phải kiên trì điều trị, không được quá lo lắng, bi quan vì chính điều này có thể khiến bệnh nặng thêm và giảm hiệu quả điều trị. Vì cơ chế gây bệnh còn chưa rõ ràng nên cách phòng ngừa tốt nhất là giữ cơ thể luôn khỏe mạnh, có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, luyện tập và làm việc hợp lý.

Bài viết liên quan