Sử dụng công cụ tra cứu nhanh!

Ví dụ: Suc khoe, bệnh tiểu đường, bệnh MERS,

Bạn biết được bao nhiêu về bệnh chốc lở ?

Bệnh chốc lở là một bệnh nhiễm trùng da chủ yếu xảy ra ở trẻ em. Bệnh  thường hình thành ở vùng mặt, nhất là quanh mũi và miệng. Đây là bệnh dễ lây và thường có nguyên nhân do vi khuẩn.

  1. Nguyên nhân
  2. Triệu chứng
  3. Điều trị
Bạn biết được bao nhiêu về bệnh chốc lở ?
Bạn biết được bao nhiêu về bệnh chốc lở ?

Nguyên nhân

Các bác sĩ đã chỉ ra rằng, có hai loại vi khuẩn gây chốc lở, đó chính là Staphylococcus aureus (tụ cầu khuẩn) – loại phổ biến nhất và  liên cầu Streptococcus pyogenes (strep). Cả hai loại vi khuẩn này có thể sống vô hại trên da cho đến khi nhập thông qua một vết cắt hoặc vết thương khác và gây nhiễm trùng.
– Đối với người lớn, bệnh thường là kết quả của sự tổn thương da (nguyên nhân phổ biến là do điều kiện khác về da như viêm da)
– Ở trẻ em thì đặc biệt dễ bị nhiễm trùng bởi vì hệ thống miễn dịch của trẻ vẫn còn đang phát triển. Trẻ em thường bị lây nhiễm thông qua cạo, cắt hoặc côn trùng cắn nhưng cũng có thể phát triển chốc lở mà không phải bất kỳ thiệt hại đáng kể cho da.
– Nếu tiếp xúc với các vi khuẩn gây chốc lở thông qua tiếp xúc với các vết loét của một ai đó bị nhiễm bệnh hoặc với mục, chẳng hạn như quần áo, khăn trải giường, khăn và thậm chí cả đồ chơi. Khi đã bị nhiễm bệnh, có thể dễ dàng lây nhiễm sang người khác.
– Về nguyên do lây lan bệnh: Vi khuẩn tụ cầu khuẩn sản xuất ra một loại độc tố gây chốc lở lan rộng cho da gần đó. Các chất độc tấn công một loại protein giúp các tế bào da liên kết với nhau. Khi protein này bị hư hỏng, vi khuẩn có thể lây lan nhanh chóng.
– Nếu là khuẩn tụ cầu, sự nhiễm trùng sẽ gây ra những chỗ giộp đầy mủ. Những chỗ giộp này rất dễ tróc và để lại 1 chỗ trầy da chảy máu và chỗ đó sẽ nhanh chóng hình thành 1 lớp vảy với lớp vỏ màu nâu. Ngược lại, sự nhiễm trùng với khuẩn liên cầu thường không liên quan tới những vết bỏng giộp, nhưng tạo nên lớp vảy những chỗ lở loét hơn và gây đau.

Triệu chứng

  1. Trường hợp là chốc lở truyền nhiễm: đây là trường hợp bệnh hay gặp nhất, bắt đầu là một nốt mụn đỏ trên mặt, thường quanh mũi và miệng. Sau đo thì các nốt mụn nhanh chóng vỡ ra, chảy dịch hoặc mủ và đóng vảy màu nâu. Cuối cùng vảy bong ra, để lại một vết đỏ mà không gây sẹo. Nốt mụn có thể ngứa những không đau. Nếu trẻ bị bệnh thì không có dấu hiệu sốt nhưng thường bị sưng hạch ở vùng bị bệnh. Và do rất dễ lây nên chỉ cần đụng chạm hoặc gãi vào vết mụn cũng làm cho bệnh lây sang những nơi khác.
  2. Trường hợp là chốc lở dạng phỏng: dạng này thường xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi, gây ra những nốt phỏng nước chứa đầy dịch và không đau, thường ở cánh tay, thân mình và cẳng chân. Da xung quanh nốt phỏng đỏ và ngứa nhưng không loét. Nốt phỏng sẽ vỡ và đóng vảy màu vàng và có thể lâu liền hơn các dạng chốc lở khác.
  3. Trường hợp là mụn mủ: đây là tdạng bệnh nặng nhất trong đó nhiễm trùng thâm nhập sâu vào lớp bì. Các dấu hiệu của dạng này bao gồm:

+ Xuất hiện các nốt mụn đau chứa đầy dịch hoặc mủ biến thành vết loét sâu, thường ở cẳng chân và bàn chân.

+ Hình thành lớp vảy dày, cứng màu vàng xám trên vết mụn.

+ Nổi sưng hạch ở vùng bị bệnh

+ Các vết loét liền để lại sẹo.

Điều trị

Chốc lở là một căn bệnh lây lan theo đường tiếp xúc do vậy:
– Cẩn thận không động chạm vào vùng da bị bệnh và tránh không cho trẻ sờ hoặc gãi. Chú ý việc cắt móng tay cho trẻ.
– Rửa sạch tay sau khi chạm vào vùng da bị bệnh hoặc sau khi bôi mỡ kháng sinh.
– Không dùng chung khăn mặt, quần áo cho đến khi khỏi bệnh.
Điều trị tuỳ thuộc và tuổi của trẻ, thể bệnh và mức độ nặng, bao gồm:
– Thường xuyên vệ sinh. Sát trùng và giữ cho da trẻ sạch sẽ có thể giúp cho những nốt mụn nhỏ tự liền.
– Dùng kháng sinh bôi tại chỗ như mỡ mupirocin (Bactroban)
–   Uống kháng sinh. Loại kháng sinh cụ thể sẽ tuỳ thuộc và mức độ nặng của bệnh, tình trạng dị ứng hoặc những bệnh khác ở trẻ.

Bài viết liên quan